Bài thuốc Hòe giác hoàn là gì? Thành phần, công dụng

Hòe giác hoàn là một bài thuốc nổi tiếng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Bài thuốc có thành phần và tác dụng như thế nào, mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây của Hemono.

1. Giới thiệu bài thuốc Hòe giác hoàn

Bài thuốc Hòe giác hoàn nguyên bản từ cuốn sách Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương (Quyển 6) của Trần Sư Văn. Phương thuốc này có tác dụng chính là thanh nhiệt, lương huyết, trị tiêu ra máu, tức là chữa các bệnh do huyết nhiệt gây ra với một số triệu chứng như: sốt nhiễm khuẩn, viêm nhiễm, sốt cao vật vã, đi ngoài ra máu, táo bón ra máu,…

Bài thuốc Hòe giác hoàn
Bài thuốc Hòe giác hoàn

2. Các thành phần cấu tạo nên một phương thuốc

Ai đã từng dùng qua thuốc bắc đều biết rằng, dù là thuốc bắc hay thuốc sắc, thì trong y học cổ truyền ít khi chỉ sử dụng một loại thuốc riêng lẻ mà hầu hết chúng đều được kết hợp với nhau. Sau khi chẩn đoán xong, lương y sẽ đưa ra một đơn thuốc gồm nhiều loại thuốc Bắc khác nhau, trong đó hàm lượng của mỗi vị thuốc Bắc đều được ghi rõ ràng. Hiệu quả của bài thuốc phụ thuộc vào việc kê đơn có đúng triệu chứng hay không và việc kết hợp bài thuốc Đông y có hợp lý hay không.

Quy luật được đề cập ở đây là quy tắc kê đơn, được gọi là Quân và Thần trong y học Trung Quốc. Đề xuất Quân, Thần và Phụ tá được mượn từ điển tích cổ khi thành lập các quan chức trong triều đình, ban đầu đề cập đến Quân, Thần, Tá và Sứ, sau đó đề cập đến các chức năng khác nhau của các loại thuốc khác nhau trong đơn thuốc của Y học cổ truyền Trung Quốc.

Quân – Quân dược (chủ dược):

Quân là vị thuốc đầu tiên và cốt lõi của bài thuốc. Quân dược có vai trò điều trị bệnh chính hay hội chứng chính, có dược lực mạnh nhất và liều lượng cũng nhiều hơn các thành phần khác trong phương thuốc. Thông thường trong một bài thuốc chỉ có một vị thuốc Quân giống như một quốc gia chỉ có một nhà vua, tuy nhiên trong trường hợp bệnh nan giải phức tạp, đơn thuốc có thể có đến 2-3 Quân dược.

Thần – Thần dược hay phụ dược:

Thần dược có hai vai trò, một là thuốc hỗ trợ Quân dược tăng cường tác dụng điều trị bệnh chính hoặc hội chứng chính, hai là thuốc điều trị chứng bệnh đồng thời hoặc hội chứng đồng thời. Dược lực của Thần dược kém hơn so với Quân dược. Một phương thuốc có thể có nhiều Thần dược hoặc không có Thần dược.

Tá – Tá dược:

Tá dược cũng có hai vai trò: Một, là thuốc bổ trợ, dùng để giúp Quân dược và Thần dược tăng cường hiệu quả điều trị, hoặc điều trị trực tiếp các triệu chứng nhẹ đồng thời; loại thứ hai là loại bỏ hoặc làm giảm độc tính, làm chậm tác dụng mãnh liệt của Quân dược và Thần dược.

Sứ – Sứ dược:

Dược lực của Sứ dược kém hơn các vị thuốc khác trong đơn thuốc và liều lượng chung cũng thấp hơn. Trong một phương thuốc Sứ dược có nhiều vai trò khác nhau:

  • Thứ nhất là thuốc thông kinh lạc, tức là thuốc có tác dụng lưu thông khí huyết tránh tắc nghẽn
  • Thứ hai là thuốc điều kinh, tức là thuốc có tác dụng dung hòa các loại thuốc khác nhau.
  • Đôi khi, Sứ dược cũng mang tính chất hòa hoãn, làm giảm sự mãnh liệt của phương thuốc.

3. Thành phần trong bài thuốc Hòe Giác Hoàn

  • Quân: Hòe (20g)

Trong bài thuốc Hòe Giác Hoàn, Hòe là vị thuốc Quân, là chủ dược của bài thuốc. Bộ phận được dùng của cây thuốc là nụ hoa mới nở. Nụ hoa có hình trứng, cuống nhỏ, ngắn, cánh hoa màu vàng có mùi thơm, vị hơi đắng. Đài hoa hình chuông xẻ thành 5 răng và có màu vàng hơi xám.

Thành phần chính trong nụ hoa gồm các flavonoid và các triterpenoid tự do, trong đó phần quan trọng nhất là flavonoid. Flavonoid chính trong nụ hoa Hòe là Rutin (Rutosid) với hàm lượng có thể lên đến 28% hoặc cao hơn. Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền và giảm tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu do đó có tác dụng cầm máu, chống xuất huyết.

Rutin được dùng chủ yếu trong các trường hợp như điều trị suy yếu tĩnh mạch, xuất huyết như chảy máu cam, đi tiêu máu và được dùng làm thuốc chữa trĩ.

 

Hòe là vị thuốc Quân dược trong bài thuốc Hòe giác hoàn
Hòe là vị thuốc Quân dược trong bài thuốc Hòe giác hoàn
  • Thần: Hoàng cầm (20g), Địa du (20g)

Hoàng cầm: 

Bộ phận chính được dùng là rễ Hoàng cầm. Rễ Hoàng cầm có hình chùy, vặn xoắn,màu nâu vàng, bề mặt có rễ con hơi lồi, có các vết khía dọc vặn vẹo, không có mùi và có vị hơi đắng.

Dược liệu rễ Hoàng cầm đã được xác định có chứa nhiều flavonoid, trong đó thành phần quan trọng nhất là baicalin. Hoàng cầm có công dụng hạ nhiệt, tăng sức co bóp và làm chậm nhịp tim do đó có tác dụng trong điều trị cao huyết áp. Ngoài ra, rễ Hoàng cầm còn giúp giảm co thắt cơ trơn ruột và có tác dụng kháng khuẩn tốt. Trong Y học cổ truyền, Hoàng cầm được dùng để chữa sốt, mắt đỏ sưng đau, chảy máu cam, chữa viêm dạ dày và ruột.

Địa du: 

Địa du thuộc loại cây thảo, phân bố ở vùng ẩm thấp và mọc chủ yếu trong rừng núi. Bộ phận được dùng của cây Địa du là rễ đã phơi khô. Rễ Địa du hình viên trụ, cứng, màu nâu thâm và có ít rễ con màu vàng nâu. Địa du có tác dụng cầm máu và thường được phối với nhiều vị thuốc khác để điều trị tiêu ra máu, kiết lỵ ra máu, trĩ ra máu, đi ngoài lâu ngày ra máu.

Hoàng cầm và Địa du trong phương thuốc Hòe giác hoàn
Hoàng cầm và Địa du trong phương thuốc Hòe giác hoàn
  • Tá: Đương quy (20g), phòng phong (20g)

Đương quy: 

Bộ phận được dùng là rễ phơi hay sấy khô của cây Đương quy. Rễ Đương quy chia thành 3 nhánh với phần đầu, thân và vĩ (phần đầu, phần giữa và phần dưới). Rễ có màu nâu nhạt và có nhiều nếp nhăn dọc trên bề mặt. Dược liệu được thái, cắt thành lát, mặt cắt ngang có màu vàng ngà, bề mặt có nhiều vân tròn và nhiều điểm tinh dầu. Rễ Đương quy có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay và hơi đắng.

Dược liệu có thành phần hóa học chính đã được nghiên cứu là tinh dầu và coumarin, có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay và hơi đắng. Đương quy được dùng với công dụng chính là chữa thiếu máu, suy nhược cơ thể, rối loạn kinh nguyệt,.. Đương quy thường được phối trong các bài thuốc như bài thuốc chữa táo bón, huyết nhiệt; bài thuốc chữa thiếu máu, bổ máu,,…

Phòng phong: 

Trong bài thuốc Hòe Giác Hoàn, bộ phận được dùng của cây Phòng phong là rễ đã được phơi khô. Rễ Phòng phong thường có hình trụ dài hoặc hình nón. Mặt ngoài rễ màu nâu xám, sần sùi, lớp vỏ ngoài thường bong tróc ra, xốp, dễ gãy. Rễ có mùi thơm, vị đặc trưng và hơi ngọt.

Phòng phong có tác dụng chữa đau đầu do cảm lạnh, kháng khuẩn, giảm đau. Một số bài thuốc Y học cổ truyền sử dụng Phòng phong để chữa trị tiêu chảy, lỵ, phân có máu,…

Vị thuốc Đương quy và Phòng phong trong bài thuốc Hòe giác hoàn
Vị thuốc Đương quy và Phòng phong trong bài thuốc Hòe giác hoàn
  • Sứ: Chỉ xác (20g)

Vị thuốc cuối cùng trong phương thuốc Hòe Giác Hoàn là Chỉ xác – quả chưa chín đã được phơi hoặc sấy khô của cây Cam chua hoặc cây Cam ngọt. Dược liệu có hình bán cầu, vỏ quả ngoài màu nâu, thấy rõ có vết vòi nhụy hoặc sẹo cuống quả. Lớp vỏ quả giữa màu trắng, nhẵn. Chất cứng, khó bẻ, ruột quả có 7-12 múi. Múi khô, nhăn nheo, màu nâu, trong có hạt; có mùi thơm, vị đắng và hơi chua.

Chỉ xác thường được sử dụng trong một số trường hợp như chữa tiêu ra máu, điều trị đầy hơi chướng bụng, chữa chứng khó tiêu ở trẻ em,…

Chỉ xác là thành phần cuối cùng trong bài thuốc Hòe giác hoàn
Chỉ xác là thành phần cuối cùng trong bài thuốc Hòe giác hoàn

4. Tác dụng của bài thuốc Hòe Giác Hoàn

Hòe Giác Hoàn là bài thuốc đã được công nhận trong Dược điển Trung Quốc CP2015. Bài thuốc có tác dụng điều trị và ngăn ngừa trĩ tái phát hiệu quả. Với chủ dược là Hoa hòe, bài thuốc giúp làm bền thành máu, cầm máu tốt, giảm đau rát, kháng khuẩn hiệu quả. Kết hợp hài hòa với các vị thuốc Thần, Tá, Sứ, bài thuốc có công dụng làm co búi trĩ, điều trị đi ngoài ra máu, tiêu chảy ra máu hay táo bón ra máu, mà nguyên nhân chính gây ra các tình trạng này là bệnh trĩ.

Mỗi dược liệu trong bài thuốc gốc được dùng với 20g, tuy nhiên tùy vào tình trạng của từng bệnh nhân mà có thể điều chỉnh, gia giảm liều lượng cho phù hợp.

5. Một số sản phẩm được sản xuất dựa theo bài thuốc Hòe Giác Hoàn

Hiện nay, để tiện sử dụng cũng như để tối ưu tác dụng của các thành phần, bài thuốc Hòe Giác Hoàn đã được ứng dụng trong sản xuất để tạo ra các sản phẩm viên uống thay cho việc sắc thuốc uống hàng ngày. Một số sản phẩm sử dụng bài thuốc Hòe Giác Hoàn trong điều trị trĩ nổi bật hiện nay là: Thuốc điều trị trĩ Safinar, Thuốc trĩ Tomoko. Dù là sản phẩm nào, công thức của mỗi loại sản phẩm đều phải tuân theo quy tắc Quân – Thần – Tá – Sứ, với Hoa hòe là vị thuốc chủ đạo và có hàm lượng cao nhất.

Hemono là sản phẩm kế thừa bài thuốc Hòe giác hoàn
Hemono là sản phẩm kế thừa bài thuốc Hòe giác hoàn

Đặc biệt, Hemono là sản phẩm mới ra đời và được kế thừa từ bài thuốc Hòe Giác Hoàn. Nhà sản xuất đã nghiên cứu và bổ sung thêm chiết xuất Diếp cá – thành phần có chứa nhiều hoạt chất có tác dụng giải độc, kháng viêm, kháng khuẩn rất tốt. Đồng thời, Diếp cá cũng có khả năng tăng sức bền của mao mạch, nhờ đó làm tăng cường công dụng cầm máu do xuất huyết trong bệnh trĩ.

Ngày viết:
Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *